Lời Ngỏ — Tập 24
Cổ nhân có câu “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ…”, “đồng thanh tương ứng…”. Quả là chính xác.Là một người yêu thơ, đặc biệt là thơ Đường, nên khi hữu duyên đọc được 24 tập thơ Bóng Nguyệt đầu tay của tác giả Hoằng Lộc (Võ Minh Tâm), tôi thật sự lấy làm hoan hỷ và hạnh phúc. Thiện duyên này, có lẽ là từ một kiếp trước nào đó, đã không dừng lại mà vẫn tiếp diễn một cách tốt đẹp, nên chỉ sau một thời gian rất ngắn, tôi lại được diện kiến chính tác giả, một nhân vật đặc dị, mà nay đã trở thành một người bạn thiết giữa dòng đời đen bạc và vạn biến này.Xuyên suốt 24 tập thơ ấy, tôi đã hồ như tìm thấy lại chính mình trong cái thế giới cô độc của nội tâm, cái “bản lai diện mục” mà tôi đã từng trở trăn trong suốt 36 năm liền sống tại đất khách quê người với bao nỗi sầu xa xứ.Tôi gọi anh Hoằng Lộc là con người đặc dị, nhưng đồng thời cũng là con người Việt Nam bình dị, thuần túy từ cả thể chất lẫn tâm hồn. Vì lẽ sao? Xin thưa, vì 2 lẽ sau đây:Thứ nhất, từ một thiếu niên “lười học, ham ăn, thích ngủ nhiều” (1) cho đến khi từ “thuở trời đất nổi cơn gió bụi”, thì anh đã bừng tỉnh khi nhận ra rằng “làm trai đâu ngỡ ngồi an phận, cũng phải đứng lên tháo xích xiềng, đi theo tiếng gọi hồn dân tộc” (1) đặng “đền đáp thâm ân cho Tổ quốc…” (1). Xúc động thay! Khẩu khí thay! Mà đó chính là cái tinh thần đích thực và muôn thuở của kẻ sĩ nước Việt. Đã là con Hồng cháu Lạc thì ai mà không ôm ấp cái hoài bão trả nợ “tứ trọng ân”! Ai mà không tím ruột khi nhìn thấy gót giầy của ngoại xâm đang giày xéo lên mảnh đất quê hương yêu dấu của cha ông mình! Ai mà có thể dửng dưng, không rạo lòng trường vai ra đặng gánh vác non sông! Vâng, đó là điều tất nhiên vậy! Tất nhiên, vì đã là thất phu thời phải hữu trách. Thế nên, “đứng trong trời đất là người, ai ai cũng có nợ đời một phân, sinh trong một nước là dân, việc mình chẳng gánh để phần cho ai” (2).Rồi bỗng một hôm, sau khi đã “…trọn phận người dân nước” (3), Minh Tâm, chàng trai trẻ ngày nào đã cùng với “vó ngựa xin dừng trước mái tranh” (3) để tiêu dao tự tại, ngâm nga đôi câu thơ thoát tục của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người đến chốn lao xao.Lẽ thứ hai, do biến chuyển nội tâm chăng: hay Hoằng Lộc, chàng trai trẻ xưa kia, của cái thời nhung bào, nay đã sạch nợ tang bồng hay hồ thỉ trái đài giờ đã vơi? Thưa, không biết! Nhưng cũng trong giai đoạn “gác kiếm” này, tác giả đã tuôn ra những dòng thơ Đạo bất tận; những dòng thơ cơ hồ như có “linh điển”. Ngày ngày như một, anh cứ tuôn ra trung bình từ 30 đến 35 bài thơ Đường thi liên chi hồ điệp như vậy. Đặc dị là chỗ đó! Phi thường là chỗ đó! Phi thường trong cái nghĩa đối lập với “bình thường” theo dịnh nghĩa nghiêm khắc nhất về hai từ “bình thường” của thế gian. Mà đó, phải chăng là một hiện tượng siêu linh? Thưa, cũng chẳng hiểu nốt! Bởi duy có tác giả của 24 tập thơ đồ sộ này mới có thẩm quyền để trả lời. Vì vậy, tôi chỉ có thể, về một khía cạnh nào đó, gượng gọi Bóng Nguyệt là một loại “điển thi”, chẳng thể nghĩ bàn. Tại sao ư? Xin thưa, xuyên suốt 24 tập thơ ấy, hơn năm ngàn (5000) bài với những từ ngữ rất đa dạng và phong phú, nhưng nội dung cũng chỉ để gợi lên một điều duy nhất, đó là Đạo, là cái Bản-thể-Chân-như-Tuyệt đối-không-hai mà Phật gia gọi là Phật tánh, Tiên gia gọi là Xích tử chi tâm hoặc Anh nhi chi tâm, còn Nho gia gọi là Nhân chi sơ tính bổn thiện. Có lẽ “điển” xuống sao thời tác giả chấp bút như vậy nên không nhất thiết phải động não để tuân thủ một cách nghiêm ngặt cái “Đường thi niêm luật”. Và thời xưa, các bậc túc Nho, Trung Hoa, cũng như Việt Nam, đã luôn nói rằng “văn chương đại gia bất nệ văn tự” đó sao! Hơn nữa, vì thơ Đạo, thành thử Bóng Nguyệt không buộc phải có khởi đầu (alpha) và kết thúc (omega), nên cá nhân tôi tự cho phép được gọi Bóng nguyệt là “liên hoàn vô đoan thi”.Rốt, đọc Bóng Nguyệt là để thấy lại chính mình, nên độc giả nào muốn tìm lại “bộ mặt thật của mình trước khi cha mẹ sanh ra”, thì đây, Bóng Nguyệt, chính là một “thiền phương”, trong những “thiền phương” cho mục đích đó! Và hơn ai hết, tôi tin chắc rằng trong một tương lai không xa, Võ huynh hiền hữu của chúng ta sẽ đột nhiên xuất thần, để tiếp tục trùng điệp tuôn ra những “điển thi” bất hữu khác nữa. “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”. Thế đấy và thế đấy! Chân thành và kính bút.Sài Gòn, tháng 08 năm 2024Học giả Hàn Trí SĩHoằng Lộc: Bóng Nguyệt (Tập 4. Tr. 220-222)Thơ văn của Đông Kinh Nghĩa ThụcNgân Giang nữ sĩ